1. Những mốc son lịch sử hình thành Mặt trận dân tộc thống nhất
Ngày 18/11/1930, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị về việc thành lập Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương. Đây được xem là dấu mốc quan trọng, mở đầu cho hệ thống các tổ chức Mặt trận sau này. Từ đây, đường lối “đoàn kết toàn dân” được đặt lên hàng chiến lược, quy tụ sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Trải qua những bước ngoặt lịch sử, Mặt trận dân tộc thống nhất đã kế thừa và phát triển qua nhiều giai đoạn:
Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936 – 1938), nhằm vận động dân chủ, dân sinh.
Mặt trận Thống nhất Dân tộc phản đế Đông Dương (1939 – 1941), chuẩn bị lực lượng cho cao trào cách mạng.
Mặt trận Việt Minh (1941 – 1951), tập hợp toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, làm nên thắng lợi Cách mạng Tháng Tám 1945.
Mặt trận Liên Việt (1946 – 1955), củng cố chính quyền cách mạng, kháng chiến chống thực dân Pháp.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955 – nay), thống nhất các tổ chức Mặt trận, phát huy sức mạnh toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Những hình thức tổ chức khác nhau qua từng thời kỳ, nhưng mẫu số chung của tất cả vẫn là mục tiêu đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân, gắn kết sức dân thành một khối thống nhất, tạo nên sức mạnh vượt qua mọi thử thách của lịch sử.
2. Sự ra đời của Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc
Nhằm ghi nhận truyền thống vẻ vang của Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết, năm 2003, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quyết định chọn ngày 18/11 hằng năm – ngày ra đời Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam – là Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư.
Từ đó, Ngày hội 18/11 trở thành một hoạt động chính trị – xã hội quan trọng, được tổ chức sôi nổi, rộng khắp trên cả nước. Ngày hội không chỉ là dịp ôn lại truyền thống lịch sử vẻ vang của Mặt trận, mà còn là thời điểm nhân dân tại mỗi khu dân cư cùng nhìn lại những kết quả trong xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; biểu dương các tập thể, gia đình tiêu biểu; tăng cường sự gắn kết cộng đồng và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
3. Ý nghĩa quan trọng của Ngày hội trong đời sống xã hội
Trải qua hơn hai thập kỷ tổ chức, Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc đã thực sự trở thành ngày hội lớn của nhân dân cả nước, mang nhiều ý nghĩa thiết thực:
Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết, huy động sự tham gia của người dân trong các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững.
Tăng cường giao lưu, gắn kết tình làng nghĩa xóm, củng cố truyền thống văn hóa cộng đồng.
Là diễn đàn để nhân dân bày tỏ ý kiến, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền; phản ánh nguyện vọng, đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương.
Góp phần giữ gìn an ninh trật tự, xây dựng môi trường sống văn minh, lành mạnh, an toàn.
Lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống, qua các hoạt động văn nghệ, thể thao, trò chơi dân gian, tôn vinh người tốt – việc tốt.
Ngày hội còn là dịp để các cấp ủy đảng, chính quyền sâu sát cơ sở, gặp gỡ nhân dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và động viên bà con tiếp tục đoàn kết, đồng lòng thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của địa phương.
4. Ngày hội – biểu tượng của sức mạnh Việt Nam trong thời kỳ mới
Bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tinh thần “đại đoàn kết toàn dân tộc” càng có ý nghĩa quan trọng. Ngày hội Đại đoàn kết không chỉ gợi nhắc về truyền thống quý báu, mà còn đặt ra yêu cầu phải tiếp tục củng cố và phát huy sức mạnh cộng đồng để xây dựng đất nước giàu đẹp, văn minh, hiện đại.
Với ý nghĩa sâu sắc đó, Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc 18/11 đã, đang và sẽ mãi là biểu tượng của tinh thần đoàn kết Việt Nam; là động lực để Đảng, chính quyền và nhân dân đồng lòng, chung sức xây dựng quê hương, đất nước ngày càng phát triển.